Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Ngũ gia bì chân chim



Thật khó chịu khi bị muỗi đốt hay nghe tiếng muỗi vo ve bên tai. Không cần xịt thuốc mà muỗi vẫn chết? Thật đơn giản, ngay hôm nay bạn hãy thử trồng cây Ngũ gia bì chân chim - cây sẽ giúp bạn góp phần cải thiện môi sinh.[1]









Cây Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi là Chân chim, Sâm nam, cây Chân vịt, tên khoa học Schefflera octophylla Lour, họ ARALIACEAE. Trong Đông y dùng Vỏ cây phơi hoặc sấy khô là vị thuốc trong Đông y dùng chữa tê thấp, đau nhức xương. Dược điển Việt Nam năm 1983 đã ghi nhận điều này.[1]

Lá lốt





Lá lốt có tên khoa học là Piper lolot C. DC,  họ Hồ tiêu PIPERACEAE; là loại cây thảo sống dai, cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu. Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10.[1]

Kinh giới






Kinh giới vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc dùng làm thuốc chữa bệnh thì lấy cả cây trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.[1]






Toàn kinh giới












Kinh giới.









Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.[1]




Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.

Đại bi


Đại bi hay còn gọi là Ngải nạp hương, Từ bi, Đại ngãi … Tên khoa học Blumea balsamifera (L) DC, họ Cúc ASTERACEAE [1]















Đại bi là loại cây nhỏ, cao 1 – 2m, thân có nhiều khía rãnh chạy dọc, nhiều lông, trên ngọn có mang nhiều cành. Lá mọc so le, hình bầu dục, mũi mác, dài 15 – 20cm, rộng 5 – 8cm, mặt trên lá có lông, màu xanh thẫm; mặt dưới lá trắng nhạt, mép lá gần như nguyên

Tầm Xuân





Không biết vì sao loại hoa này lại mang tên “tầm xuân”, phải chăng là vì hoa cứ tìm (tầm) mùa xuân mà khai bông khoe sắc. Trong dân gian, tầm xuân còn có nhiều tên khác như thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cức, tường mi, thập tỉ muội, thất tỉ muội, dã tường vi, hòa thượng đầu..., tên khoa học là Rosa multiflora Thunb, thuộc họ hoa hồng Rosaceae. Tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng..

Liên tiền thảo








Liên tiền thảo hay còn gọi là cây Rau má lông. Tên khoa học Glechoma longituba (Nakai) Kupr., họ Bạc hà: LAMIACEAE.




Liên tiền thảo là cây thảo sống lâu năm, có thân bò dài đến 0,5m và cho thân đứng có lông dày hay hầu như không lông. Lá mọc đối, có cuống dài, phiến hình thân hay hình tim rộng 1,5 – 4cm, mép có răng to. Chùm hoa ở kẽ lá, đài cao 5,5 – 8mm có răng nhọn cao bằng 1/2 ống. Tràng màu lam tía, môi trên có 2 răng nhỏ, môi dưới có thuỳ giữa dài. Quả đóng to, cứng, màu nâu đen. Hoa tháng 3 – 5, quả tháng 4 – 6.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Bạch hạc

Bạch hạc, Kiến cò hay Cây lác - Rhinacanthus nasutus (L.) Kurz, thuộc họ Ô rô - Acanthaceae.[1]





Mô tả: Cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1-2m, có rễ chùm. Thân non có lông mịn. Lá mọc đối, có cuống, phiến hình trứng thuôn dài, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông mịn. Hoa nhỏ, mọc thành xim nhiều hoa ở nách lá hoặc đầu cành hay ngọn thân. Hoa màu trắng nom như con hạc đang bay. Quả nang dài, có lông.[1]